Đàm phán hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một đàm phán thương mại tự do (FTA) giữa 9 nước hai bên bờ Thái Bình Dương bao gồm Australia, New Zealand, Brunei, Singapore, Việt Nam, Malaysia, Peru, Chile và Hoa Kỳ. Khi tham gia TPP, Việt Nam đã ở một vị thế khác so với khi gia nhập WTO.

Ảnh minh họa
Cơ hội và thách thức
Vòng đàm phán TPP đầu tiên đã được tiến hành tại Melbourn, Australia vào tháng 3-2010. Tính đến nay, TPP đã đi qua 12 vòng đàm phán chính thức và nhiều đàm phán giữa kỳ. Vòng gần nhất vừa kết thúc tại Dallas, Hoa Kỳ ngày 18-5-2012. Việt Nam là quan sát viên của đàm phán này từ những vòng đàm phán đầu tiên và là thành viên chính thức từ tháng 11-2010. Tháng 11-2011, một bản khung sơ bộ của đàm phán TPP được nguyên thủ 9 nước thành viên công bố. Theo bản khung sơ bộ này, hiệp định TPP sẽ bao gồm các cam kết trong cả các lĩnh vực thương mại và phi thương mại. Các nước đàm phán TPP đặt mục tiêu là sẽ hoàn thành cơ bản đàm phán TPP vào cuối năm 2012. Tuy nhiên, mục tiêu này được cho là rất tham vọng bởi các nước tham gia TPP hiện còn khá xa nhau về quan điểm trong một số vấn đề cũng như kỳ vọng ở TPP.
Ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công thương cho biết, sau khi TPP được tiến hành đàm phán, thông tin về TPP ngày càng phổ biến và nhận được sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới. Bởi vậy, theo kịch bản TPP, đến năm 2015 nếu mọi chuyện đi đúng hướng, TPP sẽ có 13 thành viên và trong tương lai, sẽ tiếp tục mở rộng số lượng thành viên ra các thành viên APEC và thậm chí ngoài khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tạo nên một FTA lớn nhất trên thế giới. Mức độ tham vọng của hiệp định TPP là mở cửa thị trường toàn diện (cắt giảm gần như toàn bộ 100% thuế quan, trừ một số ít mặt hàng nhạy cảm xử lý qua kênh song phương), đàm phán dỡ bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư và dịch vụ theo nguyên tắc chọn bỏ, mở cửa thị trường mua sắm công, dịch vụ tài chính… Tiêu chuẩn ít nhất phải không thấp hơn các FTA mà Hoa Kỳ đã ký kết.
Cũng theo ông Khanh, khi hiệp định TPP có hiệu lực, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thêm nhiều cơ hội, đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Về cơ hội, mặt định lượng, hiện chưa có con số thống kê chính thức nào về việc tăng nguồn thu khi tham gia TPP, song về mặt định tính, nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam hoàn toàn có thể tìm thấy ở TPP cánh cửa mở vào các thị trường tiêu thụ rộng lớn như Mỹ… và cơ hội hợp tác phát triển. Tuy nhiên, để được hưởng lợi từ hiệp định, Việt Nam chắc chắn phải thay đổi chính sách để đáp ứng các quy tắc của TPP; phải đối diện thêm những sức ép cạnh tranh của nền kinh tế…

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (thứ ba từ trái sang) chụp ảnh cùng các lãnh đạo tham dự Cuộc họp cấp cao các thành viên Hiệp định TPP. (tại hội nghị APEC lần thứ 19)
Thận trọng trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Theo các chuyên gia, một trong những lĩnh vực đàm phán quan trọng trong khuôn khổ các đàm phán FTA thế hệ mới thời gian gần đây và là lĩnh vực được đặc biệt nhấn mạnh bởi các đối tác phát triển trong đàm phán TPP chính là bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) (IP). Theo bản dự thảo chương IP của Hoa Kỳ trong đàm phán TPP, nước này nhấn mạnh yêu cầu áp dụng TRIPS +, tức là yêu cầu điều chỉnh các biện pháp bảo hộ quyền SHTT theo hướng tăng quyền của chủ sở hữu, giảm các điều kiện với đăng ký bảo hộ và áp dụng các biện pháp nhằm tăng cường khả năng thi hành các quyền SHTT so với mức bảo hộ của WTO hiện tại. Khi gia nhập WTO, Việt Nam phải chấp nhận toàn bộ những tiêu chuẩn về IP trong TRIPS, mặc dù, tại thời điểm gia nhập WTO, nhiều chuyên gia đã cảnh báo rằng tiêu chuẩn này quá cao so với Việt Nam. Tham gia TPP, Việt Nam ở một vị thế khác so với khi gia nhập WTO, Việt Nam có quyền có tiếng nói riêng của mình dựa vào nhu cầu thực tế thay vì phải chịu áp đặt. Bởi vậy, việc đưa ra các cam kết về IP cần được cân nhắc một cách cẩn trọng và kiên quyết. Hơn nữa, sau TPP, Việt Nam dự định sẽ tham gia đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do với những đối tác quan trọng. Những cam kết trong TPP có thể là một ràng buộc cho những cam kết trong FTA tương lai. Vì vậy, đàm phán TPP càng cần phải thận trọng nhiều hơn.
Từ đây, đại diện trung tâm WTO (VCCI), kiến nghị đoàn đàm phán của Chính phủ khi xây dựng phương án đàm phán về vấn đề này cần đưa vào văn kiện TPP các nội dung của tuyên bố Doha 2011 về áp dụng linh hoạt TRIPS vào nội dung chính thức của TPP. Đồng thời, loại bỏ khỏi văn kiện TPP các điều khoản như mở rộng đối tượng có thể bảo hộ bằng sáng chế độc quyền, hủy quyền phản đối trước khi cấp giấy chứng nhận độc quyền…
Ngoài ra, một vấn đề nữa quan trọng không kém trong quá trình đàm phán chính là vấn đề lao động và giải quyết tranh chấp lao động. Đàm phán về lao động là vấn đề mới được đưa vào trong các FTA gần đây và là một chủ đề đàm phán nhiều thách thức với Việt Nam. Nguyên nhân là do, đây là lần đầu tiên Việt Nam phải xử lý nội dung này trong một đàm phán FTA cùng với sự khác biệt về quan điểm trong một số vấn đề cụ thể về lao động giữa Việt Nam với một số nước khác. Bởi vậy, việc đàm phán vấn đề lao động trong TPP cần được tiếp cận theo hướng chấp thuận các quyền cơ bản của người lao động trong TPP mà pháp luật Việt Nam, thực tiễn Việt Nam đã hoặc có xu hướng ghi nhận hoặc nên tiếp nhận, phản đối các nội dung đi quá xa so với quyền của người lao động.
Nguyễn Nga (Daidoanket)

